• Địa chỉ: TP. HCM
  • Hotline: 09xxxxxxxx

Đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà có bồi thường hay không?

Tin tức

01:30 24/05/2022

Hợp đồng thuê nhà và đặc biệt là điều khoản tiền đặt cọc cần được thỏa thuận giữa bên thuê và bên cho thuê để tránh xảy ra tranh chấp.

Đặt cọc là một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác gọi chung là tài sản đặt cọc được giao cho bên nhận trong thời hạn để đảm bảo giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Khi hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản được đặt cọc sẽ trả lại cho bên đặt cọc hay được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Nếu bên đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản được đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc. Nếu bên nhận đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả lại cho bên đặt cọc tài sản đã đặt cọc và một khoản tiền tương đương với giá trị tài sản đã đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Đối với trường hợp giữa các bên có sự thỏa thuận chấm dứt hợp đồng thuê nhà thì tiền được đặt cọc sẽ hoàn trả theo quy định. Các bên tự thỏa thuận về thời gian hoàn trả tiền đặt cọc.

Tuy nhiên, nếu một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng thì phải thông báo cho bên còn lại biết trước ít nhất là 30 ngày, trừ trường hợp giữa các bên có thỏa thuận khác; nếu không thông báo mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường.

Khi nào có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà?

Đối với bên thuê

Theo quy định tại Điều 132 của Luật Nhà ở năm 2014 thì bên thuê có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà khi bên cho thuê nhà có một trong các hành vi sau:

- Không sửa chữa nhà khi có hư hỏng nặng.

- Tăng giá thuê nhưng không thông báo hay tăng giá thuê nhà bất hợp lý mà không như theo thỏa thuận.

- Khi quyền sử dụng nhà bị hạn chế vì lợi ích của người thứ ba.

Ảnh: Nếu các bên có sự thỏa thuận thống nhất về việc chấm dứt hợp đồng thì tiền đặt cọc được hoàn lại bên cho thuê

Đối với bên cho thuê

Bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà và thu hồi nhà đang cho thuê khi có một trong các trường hợp sau:

- Bên cho thuê nhà thuộc quyền sở hữu nhà nước hay nhà ở xã hội, cho thuê trái thẩm quyền, không đúng đối tượng và không đúng điều kiện theo quy định của Luật này.

- Bên thuê không trả tiền thuê nhà theo như thỏa thuận từ 3 tháng trở lên mà không có lý do chính đáng.

- Bên thuê sử dụng nhà không đúng như mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng.

- Bên thuê tự ý cơi nới, đục phá, cải tạo hay phá dỡ nhà đang thuê.

- Bên thuê chuyển đổi, cho thuê hay cho mượn lại căn nhà đang thuê mà không có được sự đồng ý của bên cho thuê.

- Bên thuê gây mất trật tự, vệ sinh môi trường, ảnh hưởng đến sinh hoạt của những người xung quanh hay tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc lập biên bản lần thứ ba nhưng vẫn không khắc phục.

- Thuộc các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 129 của Luật này.

Pháp luật Việt Nam không quy định mức giá đặt cọc nhà cụ thể mà thường do các bên tự thỏa thuận với nhau, thông thường tiền đặt cọc sẽ bằng tiền thuê nhà trong 1 tháng. Giữa hai bên cần thỏa thuận cụ thể về mức giá này và thời gian giao tiền đặt cọc, lập biên bản giao nhận tiền để tránh xảy ra tranh chấp sau này.

(Nguồn tổng hợp - batdongsanBacGiang.info)